Thư viện Nhà văn Việt Nam sinh quán tại An Giang...

ANH ĐỨC

Họ và tên thật: Bùi Đức Ái. Sinh ngày 5 tháng 5 năm 1935. Quê quán: Bình Hòa Châu Thành An Giang. Chức vụ đơn vị hiện đang công tác: Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Hiện thường trú tại: 105 - Nguyễn Văn Thủ Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.

 

VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CÔNG TÁC SÁNG TÁC:

  Từ năm 1953: là biên tập viên báo Cứu quốc Nam bộ nhiều năm gắn bó với công việc làm báo sáng tác văn học. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là trưởng ngành Văn Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ Giải phóng Ủy viên Ban Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam Ủy viên Đảng đoàn các khóa 2 và 3 Bí thư Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh Tổng biên tập tạp chí Văn Đại biếu Quốc hội khóa 7. Đã từng làm Ủy viên Ban Thư ký Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh Phó Tổng Thư ký Hội nhà văn Việt Nam khóa 5 và 6 Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt nam khóa VI.

TÁC PHẨM CHÍNH: - Biển động (truyện 1952) - Lão anh hùng dưới hầm bí mật (truyện 1956) - Một chuyện chép ở bệnh viện (truyện 1958) - Biển xa (truyện 1960) - Bức thư Cà Mau (truyện 1965) - Giấc mơ ông lão vườn chim (truyện 1970) - Hòn đất (tiểu thuyết 1966) - Đứa con của đất (tiểu thuyết 1976) - Miền sóng vỗ (tập truyện 1985)...

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC:

- Giải Văn Nghệ Cửu Long Nam bộ năm 1952.

- Giải nhất truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ năm 1958.

- Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu năm 1965.

- Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.

TÁC PHẨM TUYỂN CHỌN: -

 

NGUYỄN QUANG SÁNG

Bút danh khác: NGUYỄN SÁNG Họ và tên thật: Nguyễn Quang Sáng. Sinh ngày 12-1-1932. Quê quán: xã Mỹ Luông Chợ Mới An Giang. Hiện thường trú tại: TP Hồ Chí Minh. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.

Vài nét về quá trình học tập công tác sáng tác:

Từ tháng 4 năm 1946 xung phong vào bộ đội làm liên lạc viên cho đơn vị Liên chi 2. Đến năm 1948 được bộ đội cho đi học thêm văn hóa ở Trường trung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố. Năm 1950: về công tác Phòng chính trị Bộ Tư lệnh quân khu miền Tây Nam bộ làm cán bộ nghiên cứu tôn giáo (chủ yếu là Phật giáo và Hòa Hảo). Năm 1955 tập kết ra Bắc chuyển ngành với cấp bậc chuẩn úy về làm cán bộ Phòng văn nghệ Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Từ năm 1958 công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam làm biên tập tuần báo Văn nghệ biên tập nhà xuất bản cán bộ sáng tác. Năm 1966 vào chiến trường miền Nam công tác tại Hội Văn nghệ giải phóng. Năm 1972 tiếp tục làm việc ở Hội Nhà văn. Sau ngày giải phóng (4-1975) làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh khóa 1 khóa 2 khóa 3 là ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam khóa 2 khóa 3 và là Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa 4.

Tác phẩm chính:

Văn xuôi: - Con chim vàng (1957) - Người quê hương - truyện ngắn - 1958 - Nhật ký người ở lại - tiểu thuyết - 1962 - Đất lửa - tiểu thuyết - 1963 - Câu chuyện bên trận địa pháo - truyện vừa - 1966 - Chiếc lược ngà - truyện ngắn - 1968 - Bông cẩm thạch - truyện ngắn - 1969 - Cái áo thằng hình rơm - truyện vừa - 1975 - Mùa gió chướng - tiểu thuyết - 1975 - Người con đi xa - truyện ngắn - 1977 - Dòng sông thơ ấu - tiểu thuyết - 1985 - Bàn thờ tổ của một cô đào - truyện ngắn - 1985 - Tôi thích làm vua - truyện ngắn - 1988 - 25 truyện ngắn - 1990 - Paris - tiếng hát Trịnh Công Sơn - 1990 - Con mèo Fujita - truyện ngắn - 1991

Kịch bản phim: - Mùa gió chướng -1977 - Cánh đồng hoang - 1978 - Pho tượng - 1981 - Cho đến bao giờ - 1982 - Mùa nước nổi - 1986 - Dòng sông hát - 1988 - Câu nói dối đầu tiên - 1988 - Thời thơ ấu - 1995 - Giữa dòng - 1995 - Như một huyền thoại - 1995

Giải thưởng văn học:

- Ông Năm Hạng - truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn báo Thống Nhất - 1959

- Tư Quắn - truyện ngắn giải thưởng cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội - 1959

- Dòng sông thơ ấu - giải thưởng Hội đồng văn học thiếu nhi Hội nhà văn - 1985

- Con mèo của Fujita - tập truyện ngắn giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam - 1993

- Cánh đồng hoang (viết kịch bản phim) bộ phim được truy tặng Huy chương vàng liên hoan phim toàn quốc (1980) Huy chương vàng liên hoan phim ở Matxcơva (1981)

- Mùa gió chướng (viết kịch bản phim) Huy chương bạc liên hoan phim tòan quốc (Hà Nội 1980)

- Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II năm 2000.

NGUYỄN QUANG SÁNG :

Tôi bắt đầu cầm bút từ năm 1952 lúc còn ở rừng U Minh thời đánh Pháp. Mãi đến năm 1956 truyện ngắn đầu tiên Con chim vàng mới được in trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Từ ấy đến nay tôi đã có được một số tác phẩm vài giải thưởng nhưng tôi luôn tự hỏi mình đã thật là nhà văn hay chưa? Thiệt lòng tôi đến với nghề viết văn rất ngẫu nhiên. Từ nhỏ đến lớn tôi không bao giờ mơ tưởng mình trở thành nhà văn!  

 

 LÊ VĂN THẢO 

 

Họ và tên thật: Dương Ngọc Huy. Sinh ngày 1-10-1939. Quê quán: Thủ Thừa Long An. Quê ngoại P.Bình Đức Tp. Long Xuyên An Giang.Chức vụ đơn vị hiện đang công tác: Đã nghỉ hưu Nguyên Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam khóa VII (2005-2010) Nguyên Chủ tịch Hội nhà văn TP Hồ Chí Minh. Hiện thường trú tại: 37/2 Nguyễn Phi Khanh phường Tân Định quận 1 TP Hồ Chí Minh Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.

VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CÔNG TÁC SÁNG TÁC:

Học đại học toán ở TP. Hồ Chí Minh thoát ly lên chiến khu từ năm 1962 làm công tác văn hóa văn nghệ. Năm 1968: tham gia chiến dịch Mậu Thân ở Sài Gòn. Bắt đầu viết văn từ 1965 với đề tài nông thôn chiến tranh du kích. Lâu nay văn học của chúng ta thường vất vả xung quanh việc khắc họa những nhân vật trong cuộc: anh bộ đội anh cán bộ các nghệ sĩ lão nông hay chị công nhân kể cả phía địch nếu đó là tác phẩm viết về chiến tranh. Chỉ một Lê Văn Thảo dường như đã chỉ chú tâm đến loại nhân vật mà vì nhiều lý do khác nhau họ đã bị bong ra khỏi khu vực người trong cuộc. ở tiểu thuyết được giải thưởng Hội Nhà văn Một ngày và một đời những chương hay nhất là đoạn văn viết về xóm bụi đời đã “ngẫu nhiên” tham dự vào một trận đánh lớn của biệt động thành. Các truyện ngắn Anh chàng xích lô lãng tử Cô gái đi vào cửa sau Ông cháu và con người chủ cũ Người Sài Gòn Về Cần Thơ gặp cháu gái... đều có những nhân vật rất hay đều là dân bụi hoặc mấp mé bụi đời.

TÁC PHẨM CHÍNH ĐÃ XUẤT BẢN:

Gồm các tập truyện ngắn và tiểu thuyết: - Đêm Tháp Mười - 1972 - Cửa sổ màu xanh - 1980 - Buổi chiều và sáng hôm sau - 1983 - Ngôi nhà có hàng rào song sắt - 1987 - Chuyện nhỏ tình yêu - 1992 - Con đường xuyên rừng - 1995 - Ông cá hô - 1995 - Một ngày và một đời - 1997 - Con mèo - 1999 - Cơn giông - 2002 - Truyện ngắn chọn lọc - 2003

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC:

- Giải A về tiểu thuyết do Hội nhà văn Việt Nam trao tặng 1998 (tiểu thuyết Một ngày và một đời).

- Giải B về tiểu thuyết do Hội nhà văn Việt nam trao tặng 2003 (tiểu thuyết Cơn giông).

- Giải thưởng Đông Nam Á năm 2006 (tiểu thuyết Cơn giông).

- Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.

Đọc Lê Văn Thảo tôi nhớ đến câu nói của một họa sĩ đã quên tên: “Hãy đưa tôi một nắm bùn nếu anh muốn có một nàng công chúa”.( Văn Chinh )

( Còn cập nhật tiếp theo )